Quy định pháp lý về tài sản chung của vợ chồng và các trường hợp vô hiệu khi phân chia

Đăng ngày:

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền sở hữu tài sản – đặc biệt là các tài sản có giá trị lớn như bất động sản luôn là vấn đề có khả năng phát sinh tranh chấp cao. Nhiều người thắc mắc rằng khi người vợ tự đứng ra vay tiền và đứng tên trên giấy tờ mua nhà thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu chung hay riêng? Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về việc tuyên vô hiệu thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và cách phân chia tài sản đang đưa vào kinh doanh khi ly hôn cũng được pháp luật quy định rất chặt chẽ.

Xác định quyền sở hữu đối với căn nhà do người vợ vay tiền đứng tên mua

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn mặc định là tài sản chung. Do đó, trường hợp người vợ tự mình đứng ra vay tiền để mua nhà trong thời kỳ hôn nhân thì căn nhà đó vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

Tài sản này thuộc sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng nhằm bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình cũng như thực hiện các nghĩa vụ chung. Căn nhà đứng tên người vợ chỉ được công nhận là tài sản riêng nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt sau:

  • Người vợ chứng minh được căn nhà được hình thành hoàn toàn từ nguồn tài sản riêng của bản thân.

  • Căn nhà có được thông qua việc người vợ được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.

  • Vợ chồng có văn bản thỏa thuận rõ ràng xác định căn nhà là tài sản riêng của người vợ.

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, nếu không có đủ căn cứ hoặc giấy tờ hợp pháp để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó bắt buộc phải được coi là tài sản chung của vợ chồng.

Các trường hợp tuyên vô hiệu thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân

Pháp luật cho phép vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình và bên thứ ba, giao dịch phân chia này sẽ bị tuyên vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Ảnh hưởng đến gia đình và con cái: Việc phân chia tài sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của gia đình; hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

  • Trốn tránh các nghĩa vụ tài chính: Việc phân chia tài sản được thực hiện nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ bao gồm: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho các cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; và các nghĩa vụ tài sản khác theo quy định pháp luật liên quan.

Nguyên tắc phân chia tài sản chung đang đưa vào kinh doanh khi ly hôn

Đối với những tài sản chung đang được sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc phân chia khi ly hôn được thực hiện dựa trên nguyên tắc ưu tiên duy trì hoạt động kinh tế ổn định.

Theo đó, người vợ hoặc người chồng đang trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung đó sẽ có quyền được nhận tài sản bằng hiện vật. Sau khi nhận tài sản, bên tiếp tục kinh doanh có trách nhiệm phải thanh toán bằng tiền hoặc giá trị tương đương cho bên kia phần giá trị tài sản mà bên kia được hưởng. Quy trình phân chia này được áp dụng đồng bộ, ngoại trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

LUẬT KỶ NGUYỄN – ĐỒNG HÀNH PHÁP LÝ CÙNG BẠN

  • Hotline: 0888.584.575 – 0903.531.333

  • Địa chỉ: Đường số 16, Lô S13, KĐT An Cựu City, Thành phố Huế.